Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

những cách lựa chọn dây dẫn loa mà có khả năng chưa bao giờ bạn biết



CẤU HÌNH CỦA DÂY
Cách sắp xếp một số chất truyền điện , chất cách điện và đầu cắm trong dây sẽ tạo nên cấu hình dây dẫn. đối với 1 số doanh nghiệp , cấu hình dây dẫn là yếu tố cần thiết nhất trong việc thiết kế dây, hơn cả vật liệu của chất truyền điện & kiểu dáng dây.
một Ví dụ chứng tỏ cấu hình có một số ảnh hưởng đến sự trình diễn của dây  đó là thay vì chạy hai dây dẫn điện song song với nhau thì ta xoắn chúng lại với nhau một cách đơn giản . Việc xoắn lại sẽ giúp giảm đáng kể điện dung & trở kháng trong dây. Cấu hình mà trong đó hai dây dẫn mắc song song với tương tự như sơ đồ của 1 tụ điện có hai dây chạy song song với nhau.
đa số những nhà thiết kế dây đều đồng hoặc bạc ý rằng sự tác động giữa một số sợi dẫn hay còn gọi là hiệu ứng mặt ngoài (skin effect) là nguyên do chính làm đi xuống chất lượng cao âm thanh của dây. 1 dây dẫn có hiệu ứng mặt ngoài cao thì tín hiệu tần số cao  loa cột toa tz 205 sẽ đi lại nhiều ở phía bề mặt của dây và ít đi dần ở phần giữa của dây. Hiện tượng này xảy ra trong tất cả chất dẫn điện sử dụng dây cứng hoặc nhiều dây nhỏ tạo nên . Hiệu ứng phía ngoài làm thay mới đặc điểm của dây ở các độ sâu khác nhau & việc này làm tác động đến các tần số không giống nhau của tín hiệu âm thanh. Âm thanh tạo ra bị tác động bởi hiệu ứng mặt ngoài sẽ mất đi độ chi tiết, độ thoáng ở quãng tám cao nhất và độ sâu của màn âm thanh.
Kỹ thuật xử lý “hiệu ứng mặt ngoài” là dùng kết cấu litz, loại kết cấu mà trong đó mỗi tao dây nhỏ trong nhóm dây được phủ lên 1 lớp chất cách điện để ngăn chúng khỏi sự tiếp xúc điện với một số tao dây khác xung quanh. Mỗi tao dây nhỏ trong kết cấu litz này gần như tương đồng nhau về mặt điện tính. những tao dây này sẽ làm cho một số vấn đề do hiệu ứng mặt ngoài gây cho âm thanh ra không bị nghe thấy bởi tai. bởi tại các tao dây rất mảnh nên chúng sẽ được bó lại với nhau theo 1 trật tự khá tự do để tạo thành 1 lõi dây đủ lớn để có được điện trở thấp.
một số dây có kết cấu chất truyền điện bao gồm nhiều tao dây nhỏ nếu không dùng kết cấu litz có khả năng gặp phải hiện tượng tín hệu “nhảy” từ sợi này sang sợi khác khi dây được xoắn lại. Khi dây xoắn lại 1 tao dây sẽ nằm phía ngoài một điểm trên dây và sau đó sẽ nằm phía trong điểm đó nhưng ở một vị trí thấp hơn. Do “hiệu ứng mặt ngoài”, nguồn tín hiệu có xu hướng chạy ở các điểm phía ngoài của tao dây và khiến cho chúng nhảy qua các tao dây khác. Rất giống với cấu tạo dạng thớ trong dây đồng bề mặt của mỗi tao dây cũng họat động như một mạch nhỏ với điện dung và hiêu ứng của một diode,
những tao dây riêng biệt trong 1 nhóm dây cũng có thể sinh ra từ trường và một số từ trường này tương tác với nhau. bất cứ khi nào dòng điện đưa vào dây thì từ trường sẽ được tạo ra xung quanh dây. Nếu là dòng điện xoay chiều thì từ trường của những tao dây tạo ra sẽ dao động tương tự nhau. Từ trường này có thể gây tác động đến tín hiệu trên một số nhóm dây liền kề & vì vậy làm giảm chất lượng âm thanh của dây. 1 số cấu hình dây có thể làm giảm đi sự tương tác từ trường này bằng phương pháp sắp xếp một số tao dây bao xung quanh 1 chất cách điện được đặt ở giữa giúp cách chúng ra với nhau.

THÔNG SỐ KỸ THUẬT CỦA DÂY DẪN
Có khá nhiều một số quảng cáo thổi phồng & chỉ là những thông tin sai lệch về dây dẫn. các doanh nghiệp đôi khi cảm thấy bắt buộc phải phát minh ra một nguyên nhân kỹ thuật nào đó để giải thích tại sao dây của họ nghe hay hơn một số đối thủ cạnh tranh. thực tế thì , thiết kế dây là một 1 nghệ thuật “ khá bí ẩn” với một số kiểu dáng đẹp mắt bên ngoài nhưng khi nghe kỹ lại có rất nhiều một số vấn đề phiền phức và lỗi kỹ thuật. mặc dù là những chất dẫn điện , chất cách điện và cấu hình dây cụ thể có các đặc tính âm thanh riêng biệt nhưng những thiết kế dây được xem là đạt không thể chỉ được diễn đạt bởi các thuật ngữ kỹ thuật. điều này lý giải vì sao không nên chọn lựa dây mà chỉ phụ thuộc vào những thông số và mô tả kỹ thuật của dây.
Mặc dù vậy trong 1 số trường hợp cũng bắt buộc phải lưu ý đến 3 thông số kỹ thuật có liên quan đến dây đó là: điện dung, độ tự cảm & trở kháng.
Điện trở của dây, thường được gọi là điện trở dòng điện một chiều, là sự đo lường mức độ cản trở dòng điện đi qua dây. Đơn vị đo của điện trở là ohm. Ohm càng thấp thì sự cản trở dòng điện của dây càng thấp. Điện trở không phải là yếu tố tác động đến sự trình diễn của dây nguồn tín hiệu (trừ 1 số loại dây mới không có tính kim lọai), nhưng lại ảnh hưởng đến 1 số dây loa nhất là các dây mảnh do một số dây âm thanh cần phải truyền đi dòng điện có cường độ cao.
Âm thanh của dây có khả năng bị tác động bởi độ tự cảm của dây. Độ tự cảm của dây càng thấp thì càng tốt , nhất là là ở trong dây âm thanh . Mặc dù thế một vài ampli a-2060 toa  sức mạnh bắt buộc phải có một mức độ tự cảm cần thiết để có khả năng làm việc khá tôt, nhiều ampli khác thì có phần cảm điện đầu ra được gắn vào các trạm cắm của loa (bên trong các chassis). Khi tính độ tự cảm quan trọng cho ampli amply toa 2120  công suất thì bắt buộc phải cộng cả trở kháng của dây vào độ tự cảm của loa.

Điện dung là 1 yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến dây tín hiệu , đặc biệt là khi bắt buộc phải chạy dây tín hiệu dài hoặc là khi bộ phận nguồn có trở kháng đầu ra cao. Điện dung của dây nguồn tín hiệu được đo bằng số picofarads/foot (1foot = 0,3048m). Điều cần lưu tâm không phải là điển trở phía trong của dây mà là tổng tất cả điện dung gắn vào thiết bị nguồn. Ví dụ , 1 dây tín hiệu dài 5 feet có điện dung 500pF sẽ có tổng điện dung bằng với dây có chiều dài 50 feet với điện dung là 50pF. Điên dung trong dây tín hiệu cao sẽ khiến cho âm treble bị mất đi và dải động bị hạn chế .

0 nhận xét:

Đăng nhận xét